Ngày 5-6-1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đặt chân lên con tàu Amiral Latouche Treville tại bến cảng Nhà Rồng ra đi tìm đường cứu nước. Ảnh tư liệu
"Người đi tìm hình của nước" – Tầm nhìn vượt thời đại
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, đất nước ta chìm trong đêm trường nô lệ dưới ách thống trị của thực dân Pháp và chế độ phong kiến. Các phong trào yêu nước diễn ra sôi nổi nhưng đều rơi vào bế tắc, khủng hoảng về đường lối cứu nước. Trong bối cảnh ấy, người thanh niên Nguyễn Tất Thành với lòng yêu nước nồng nàn, ý chí kiên cường và tư duy vượt thời đại đã lựa chọn cho mình một con đường hoàn toàn mới.
Sinh ra trên quê hương Nghệ An giàu truyền thống yêu nước và cách mạng, chứng kiến cảnh nước mất nhà tan, Người sớm nung nấu khát vọng tìm con đường giải phóng dân tộc. Ngày 05/6/1911, với tên gọi Văn Ba, Người bước lên con tàu "Amiral La Touche De Tréville" rời Bến Nhà Rồng, bắt đầu hành trình lịch sử kéo dài suốt nhiều năm bôn ba qua các châu lục. Người từng khẳng định: "Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu."
Không lựa chọn con đường sang phương Đông như nhiều sĩ phu yêu nước đương thời, Nguyễn Tất Thành quyết định sang phương Tây để tìm hiểu tận gốc sức mạnh của các quốc gia thực dân và những giá trị thực sự đằng sau khẩu hiệu "Tự do – Bình đẳng – Bác ái". Trong suốt những năm tháng ở Pháp, Anh, Mỹ và nhiều quốc gia khác, Người hòa mình vào cuộc sống của giai cấp công nhân và nhân dân lao động; vừa lao động kiếm sống, vừa học tập, nghiên cứu và tìm kiếm con đường giải phóng dân tộc đúng đắn.
Tháng 6/1919, với tên gọi Nguyễn Ái Quốc, Người thay mặt Hội những người Việt Nam yêu nước tại Pháp gửi tới Hội nghị Versailles bản "Yêu sách của Nhân dân An Nam" gồm 8 điểm đòi quyền tự do, dân chủ và bình đẳng cho nhân dân Việt Nam. Dù không được chấp nhận, bản yêu sách đã gây tiếng vang lớn trên trường quốc tế và khẳng định mạnh mẽ khát vọng độc lập của dân tộc Việt Nam.
Mùa hè năm 1920, khi tiếp cận "Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa" của V.I. Lênin đăng trên báo L’Humanité, Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn. Từ chủ nghĩa yêu nước chân chính, Người đến với chủ nghĩa Mác – Lênin và khẳng định chân lý: "Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản."
Tháng 12/1920, tại Đại hội Tours của Đảng Xã hội Pháp, Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành Quốc tế Cộng sản, tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp và trở thành người cộng sản đầu tiên của dân tộc Việt Nam. Đây là bước ngoặt lịch sử có ý nghĩa quyết định đối với cách mạng Việt Nam.
Kiến tạo con đường cách mạng Việt Nam
Sau khi tìm ra con đường cứu nước đúng đắn, Nguyễn Ái Quốc tích cực chuẩn bị về tư tưởng, chính trị và tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ năm 1921 đến năm 1930, Người truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam; sáng lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên; xuất bản báo "Thanh niên" cùng nhiều tác phẩm lý luận quan trọng như Bản án chế độ thực dân Pháp, Đường Kách mệnh… tạo nền tảng lý luận và tổ chức cho cách mạng Việt Nam.
Ngày 03/02/1930, dưới sự chủ trì của Nguyễn Ái Quốc tại Hương Cảng (Trung Quốc), Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản đã thống nhất thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự kiện này chấm dứt cuộc khủng hoảng kéo dài về đường lối cứu nước và mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử cách mạng dân tộc.
Sau 30 năm bôn ba hoạt động ở nước ngoài, ngày 28/01/1941, Người trở về Tổ quốc trực tiếp lãnh đạo cách mạng. Với tư duy chiến lược nhạy bén, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Đảng ta đã lãnh đạo toàn dân làm nên thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á.
Dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh, cách mạng Việt Nam tiếp tục giành những thắng lợi vẻ vang: chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, đại thắng mùa Xuân năm 1975 giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước; đồng thời đạt nhiều thành tựu to lớn trong công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng. Từ một quốc gia bị chiến tranh tàn phá nặng nề, Việt Nam đã vươn lên mạnh mẽ, giữ vững độc lập, chủ quyền và khẳng định vị thế ngày càng cao trên trường quốc tế.
Khơi dậy khát vọng cống hiến trong thời đại mới
Trải qua 115 năm, hành trình ra đi tìm đường cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn mãi là biểu tượng sáng ngời của lòng yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, tinh thần đổi mới và khát vọng phát triển dân tộc.
Kỷ niệm 115 năm Ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước không chỉ là dịp để tri ân công lao to lớn của Người mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc đối với mỗi cán bộ, đảng viên và Nhân dân về trách nhiệm đối với quê hương, đất nước trong giai đoạn phát triển mới.
Noi gương Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi người Việt Nam hôm nay cần tiếp tục rèn luyện bản lĩnh chính trị, đạo đức, tri thức và tinh thần trách nhiệm; phát huy ý chí đổi mới sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám dấn thân; khơi dậy mạnh mẽ khát vọng cống hiến, chung sức xây dựng đất nước Việt Nam ngày càng phồn vinh, hạnh phúc và phát triển bền vững trong kỷ nguyên hội nhập.
Hành trình ra đi năm 1911 của Bác chính là "hành trình ánh sáng" — hành trình mở đường cho độc lập dân tộc, soi sáng con đường phát triển của cách mạng Việt Nam và tiếp thêm niềm tin, động lực cho các thế hệ hôm nay và mai sau.